Chiến tranh – khốc liệt, dữ dằn, đau thương, mất mát – vốn chưa bao giờ mang gương mặt phụ nữ. Bởi thế, khi dư chấn cùng bóng ma đầy ám ảnh của nó cứ đeo bám, không chịu buông tha một vẻ đẹp nữ tính rất đỗi mong manh thì đó chính là đỉnh điểm của bi kịch, của nỗi đau con người. Người trở về đã lấy được sự đồng cảm cùng rất nhiều giọt nước mắt của khán giả, nhờ đã quyết liệt tiếp cận và mổ xẻ đến tận cùng tấn bi kịch xót xa ấy.

Ngày trở về không yên ả

Một con đò yên ả, trôi trên con sông rất đỗi hiền hoà. Một đám cưới thôn quê, pháo nổ đì đẹt. Ông lão chèo đò và cả đôi uyên ương trong ngày vui trăm năm có một đều nặng trĩu ưu tư. Gương mặt mỗi người hằn sâu một ẩn ức khó bề giải toả.

Bên kia sông, một cô gái thống thiết tiếng gọi đò. Đất nước đã yên tiếng súng cả năm trời, cô mới trở về bến sông Châu. Về để nấc lên tiếng gọi “thầy ơi”, để ông bố được ôm lại con gái mà ngỡ như đang mơ. Về để nhìn thấy tấm ảnh mình, sau khói hương nghi ngút trên bàn thờ, về để biết tin mẹ đã mất ngay sau ngày nhận giấy báo tử của con gái. Về đúng giây phút người yêu làm lễ hợp hôn, về để hôm sau “được” ăn giỗ chính mình.

Mây đã trở về ngôi làng yên bình, nơi đã dưỡng nuôi mối tình trong sáng cùng lời thề thuỷ chung son sắt của San, như thế. Nỗi đau xót được đẩy lên cực điểm, khi hình ảnh đầu tiên cô nhìn thấy là Liễu “điên”, với câu hỏi đầy day dứt, sao người chồng đi mãi không về? Khi đón cô là nỗi thất vọng to lớn của ông anh trai, bởi em gái lù lù từ cõi chết trở về đã khiến cán cân trong cuộc đua tới chức trưởng công an xã của anh bị thiệt hại đáng kể.

Triệt để sử dụng thủ pháp “đẩy nhân vật vào hoàn cảnh điển hình, để từ đó bộc lộ những nét tính cách điển hình”, Người trở về đã có cách vào chuyện gây ấn tượng cực mạnh với mỗi khán giả xem phim.

Từng ấy cung bậc cảm xúc cùng lúc tấn công tổng lực khiến Mây gần như ngã quỵ. Vậy mà cô còn phải đối mặt với nỗi giày vò đầy day dứt của San, nỗi đau đớn đến mức thất thần vì ghen tuông của Thanh – cô dâu mới trong đêm tân hôn phải chịu cảnh “giường đơn, gối chiếc”.

dao-dien-thai-huyen-phim-nguoi-tro-ve

Đạo diễn Thái Huyền đang chỉ đạo một cảnh quay.

Rồi nỗi đau như lưỡi dao cứ cứa mãi vào vết thương đang toác miệng, những giọt nước mắt âm thầm đành nuốt ngược vào trong. Ngày ngày chứng kiến màn kịch hạnh phúc gia đình do Thanh gồng mình diễn xuất bên kia hàng rào, ngày ngày chạm mặt và chứng kiến nỗi ân hận của người yêu cũ. Và ngày ngày chịu đựng những di chứng chiến tranh, những cơn sốt rét tái phát, những vết thương nhức nhối, những ký ức kinh hoàng ngập tràn đạn bom, cháy nổ, thương vong, máu hoà nước mắt của cả mình và đồng đội. Trái tim khán giả như bị bóp nghẹt, khi phải chứng kiến cô gái sở hữu vẻ đẹp thánh thiện, mong manh ấy bị dập vùi bởi những trận bão giông số phận tàn nhẫn, khốc liệt đến thế.

Chọn cách lánh mình nơi bến đò, gặp lại Quang – anh lính trinh sát từng chia bom, hứng đạn cùng nhau nơi chiến trường ác liệt, được anh yêu và dần mở lòng yêu anh, những tưởng cuộc đời trầm luân của Mây đã có một cái kết có hậu. Nhưng đồng ý lấy Quang cũng là lúc Mây đau đớn biết tin, chiến tranh đã lấy nốt của cô cơ hội được làm mẹ. Vượt lên tất cả những vò xé tinh thần, Mây quyết định rời xa Quang, giúp vợ San “mẹ tròn con vuông” rồi thả trôi con đò vô định theo dòng nước. Phía sau là tiếng gọi tha thiết của Quang, trong một đêm mưa gió bão bùng. Một cái kết mở, gợi nhiều suy tư, trăn trở.

Một góc nhìn chiến tranh đậm tính nữ

Điện ảnh Việt Nam từng khai thác khá thành công rất nhiều nỗi đau hậu chiến. Những người đàn ông trở về từ cuộc chiến, hoặc đã để lại một phần thân thể, hoặc lành lặn thể xác nhưng phải gánh chịu những cơn sang chấn tinh thần. Những người phụ nữ ở hậu phương “hoá đá” trong nỗi đau chờ chồng, chờ người yêu. Những người đàn bà vật vã đau khổ, khi giấc mơ làm vợ, làm mẹ đã trở nên rất đỗi xa vời.

Nhưng chọn một cô gái trẻ, một người lính – y tá và buộc cô phải đối mặt với sự phi nhân tính của chiến tranh, phải chứng kiến quá nhiều nỗi đau mất mát trong trạm quân y tiền phương, phải sống trong nỗi dằn vặt vì không ở bên đồng đội lúc tất cả hy sinh là một hướng đi lạ của nữ đạo diễn Đặng Thái Huyền. Bởi chiến tranh – nhìn từ góc độ đậm tính nữ này – sẽ tạo nên cảm giác rất đỗi xót xa, thương cảm. Không âm hưởng hào sảng, không sục sôi khúc quân hành “đường ra trận mùa này đẹp lắm”, Mây phải lặng lẽ làm quen dần với bom rơi, đạn nổ, với những cái chết tức tưởi, bất ngờ của bạn bè, đồng đội. Để rồi là người duy nhất của tiểu đội sống sót trở về, nín lặng, ôm giữ nỗi đau cho riêng mình, Mây chọn về mình tất cả thua thiệt, bởi “không thể hạnh phúc trên nỗi đau khổ của người khác”.

Con đò nhỏ được chọn là hình ảnh xuyên suốt mạch phim, như thân phận nổi nênh của người phụ nữ với những vết thương hậu chiến không bao giờ kín miệng. Nó như một chứng nhân, chứng kiến, sẻ chia mọi giằng xé, day dứt của Mây, trước mọi sự trêu cợt, giỡn đùa của số phận.

Góc máy úp từ trên xuống, bó hẹp khuôn hình trong đúng một chiếc giường gây cảm giác chật chội, ức chế cũng là một thủ pháp đắt giá của đạo diễn. Cũng là chiếc giường, bên này Mây vật vã trong những cơn ác mộng không dứt, bên kia vợ chồng San – Thanh căng mình chống chọi những dục vọng bản năng, những bi kịch tinh thần đau đớn.

canh-trong-phim-nguoi-tro-ve

Cảnh trong phim.

Và không chỉ có Mây, tất cả những người đàn bà trong phim đều chịu cảnh bầm dập sau những cú va đập kinh hồn của cuộc chiến. Liễu chịu phần goá bụa, khi chưa một ngày được làm vợ đúng nghĩa. Yêu thương, đau khổ, khao khát bản năng… những xúc cảm dồn nén, tuyệt vọng đã biến cô trở thành một kẻ điên, khi vật vờ giữa đám hình nhân mà cô vẫn hoang tưởng là chồng mình. Thanh gắng gượng ràng buộc San bằng mọi giá, dù cô biết trái tim người chồng đã dành trọn cho Mây. Mẹ San với nỗi đau chồng và hai con trai đều đã hy sinh, giờ đây còn nấc nghẹn trong nỗ lực buộc đứa con duy nhất còn lại phải gánh vác nhiệm vụ nối dõi tông đường. Những mảnh đời ấy đã cùng Mây tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh, về những gì người phụ nữ Việt Nam đã phải căng mình gánh chịu, suốt những năm tháng khắc nghiệt chiến tranh. Tảo tần, chịu đựng, nhẫn nại hy sinh, họ giấu trong mình nỗi đau lúc nào cũng chờ chực thét gào. Đòi được hạnh phúc, được thực hiện đúng thiên chức làm vợ, làm mẹ. Người trở về lay động trái tim và khiến khán giả thổn thức, cũng nhờ cách tiếp cận và kể chuyện thấm đẫm nhân văn ấy. Góc nhìn đậm tính nữ, của một nữ đạo diễn, đã tạo một sắc màu rất riêng, chẳng thể trộn lẫn, trong dòng chảy phim chiến tranh –phần lớn được thực hiện bởi những đạo diễn nam.

Người trở về cũng ghi nhận một điểm cộng cho những nỗ lực diễn xuất của cả dàn diễn viên, đặc biệt là Lã Thanh Huyền. “Người phụ nữ của thế kỷ 21” đã thoát ra khỏi cái bóng nhàn nhạt, an toàn, một màu trong những vai diễn trước, để nhập vai, hoá thân vào một vai diễn rất nặng về chiều sâu tâm lý. Để sống trọn cuộc đời chìm nổi của một người phụ nữ đi qua chiến tranh và thuyết phục khán giả tin rồi yêu Mây, như chính cuộc đời thực đang diễn ra trước mắt.

Sau những phản hồi tích cực từ hàng ghế khán giả cho Những đứa con của làng năm ngoái, thành công của Người trở về cho thấy chiến tranh – hậu chiến vẫn là thỏi nam châm toả ra lực hút khó cưỡng với nhiều thế hệ làm phim, cho dù hoà bình đã lập lại tròn bốn thập kỷ. Dấu ấn khó quên của một đạo diễn 8X, cho một bộ phim chiến tranh đã chứng minh một điều giản dị: Khi yêu và cố gắng hết mình khắc hoạ những trang sử vàng của cha ông, người trẻ hoàn toàn có thể làm nên chuyện!

Nguồn:nhandan.com.vn/