Một hôm ngồi trầm ngâm kê lại từng loài cá phù du, chợt nghe điện anh bạn Bí gọi: “Về ngay, hôm nay có đặc sản”. Ngỡ rằng đang tháng 10 âm thì đặc sản chắc là Rươi hay Cà ra là cùng, nhưng sẵn “máu” nên tôi bon bon hơn ba chục cây số có mặt ngay tại chòi canh đầm của anh bạn bên bờ sông Văn Úc. Bí lôi chiếc “sồng” dưới cửa cống lên, thì ra là một chú Nhòng đườn đưỡn to chừng hai ký, gọi là đặc sản thật không ngoa, vì Nhòng bắt được thường chỉ nặng bảy tám lạng là nhiều.

ca-doi-ngon

Cá đối

Nhòng thân tròn lẳn chắc nịch như cá Quả nhưng màu trắng, chúng sống nổi ở bãi cói nên thuộc giống “sạch” và hiếm. Mọi lần bọn tôi “thịt” Nhòng vẫn hay lọc bỏ xương để trộn với riềng xả ăn gỏi, lần này anh bạn Bí bảo Nhòng to thế phải luộc ăn mới đã. Cá luộc xong, cộng cả chủ khách là bốn người, đánh đu với những tảng cá trắng, chấm muối ớt, ngấm rượu vừa ngất ngưởng vừa đàm luận chuyện sản vật vùng nước lợ. Anh bạn Bí vừa tợp rượu vừa nói: “Giống Nhòng này tôi đố ông nào câu được nó, chỉ có đơm đáy với úp nơm, chứ nó quái lắm, ngay như đánh lưới cũng chẳng mấy khi nó mắc…”. Thực ra chẳng riêng gì Nhòng mà hầu hết các loại cá ăn thức ăn phù du nước lợ đều không thể câu bằng phương pháp thông thường. Bởi chúng chỉ tỉa tót những thứ có thể ăn được bám vào các rễ cây, ngọn cỏ, hoặc gặp được miếng mồi to cũng chỉ rỉa như loài gặm nhấm trên cạn.

Nhớ lại năm trước, khi đang ngồi ngâm cần đợi cá cắn câu ở khu đầm xã Ngũ Phúc (huyện Kiến Thụy), anh chủ đầm tên Yên gọi ơi ới: “Hôm nay giở giời ngồi phơi ra đấy cá nào nó cắn, đợi tí nữa bắt ít Mài lên trộn gỏi uống rượu”. Vừa nói anh Yên vừa chỉ xuống vụng nước, từng đàn cá Mài nhung nhúc dâng cái mồm ngão lên tợp bọt. Giống cá này bụng lép dáng giống cá Mè, nhưng chỉ bằng chiếc lá tre, khi động trời là kéo đàn giăng trên mặt nước. Anh Yên vớ tay lưới lội xuống, tôi cũng cao hứng… cởi quần dài lội theo, rải chưa hết tay lưới thì đàn Mài đã mắc rần rật, vội thu lưới về gỡ ra được gần chục cân. Thế là đánh vẩy, chặt đầu đuôi, dao cùn thái miếng dày miếng mỏng, xong rồi mót mãi trên vồng mới được vài quả cam đẹn lỏi lại vắt vào làm gia giảm, lúc đầu tôi cũng hơi lợm giọng, nhưng nể hảo ý của chủ đầm nên cố dùng rượu tiễn món gọi là gỏi ấy qua cuống họng. Sau đận ấy, anh Yên vẫn một mực khẳng định: “Cá Mài rẻ mà ngon, nếu đủ gia giảm thì không loại nào làm gỏi ngon bằng…”.

Quê tôi đúng điểm bồi của sông Lạch Tray lượn qua, trước kia là thiên đường của cá Đối, nay không riêng gì Đối mà các sản vật nước lợ đều vãn đi nhiều. “Cá Đối bằng đầu” là câu ví von của dân gian ám chỉ sự ứng xử xách mé, nhưng nghĩa đen thì đầu cá Đối cũng bằng thật. Loài cá này sinh đẻ mạnh, chúng luôn đi từng đàn rất đông, có khi tới vài trăm con. Ngày tôi còn nhỏ, làng tôi có hai anh tên là Thọ và Bảy rất hay dùng mìn đánh Đối, mà đánh mìn Đối phải thật “siêu”, dây cháy chậm cắt ngắn chỉ 1 phân so với miệng kíp, dùng hương châm lửa và quăng xuống sao cho đàn cá chưa kịp tản ra mìn đã nổ mới đạt. Nhưng đánh mìn quá nguy hiểm, vì gặp ngày trời hanh không nhìn thấy ngọn lửa nên mìn dễ nổ ngay trên tay. Bởi vậy “sinh nghề tử nghiệp”, anh Thọ bỏ mạng từ khi mới 17 tuổi, còn anh Bẩy sau này cũng bị mìn “đốn” mất một cánh tay khi đi bộ đội “ngứa nghề” chế mìn đánh cá. Giờ đây việc đánh mìn bị cấm ngặt, khúc sông quê mới được yên.

Cá Đối dính mìn long đầu bơi lả tả, mà đàn Đối thường bị cá Vược bám theo để thừa cơ xơi nên quả mìn nào quăng xuống cũng vớ được vài chú Vược. Cá Đối thịt mềm nhưng kho vùi, rán kỹ hoặc nấu riêu đều ăn rất đượm, ngày nay ở Hải Phòng chỉ còn những vùng cửa sông là còn sẵn. Thông thường sau mỗi tiếng mìn nổ, có một loài không nằm trong đích ngắm của người đánh mìn nhưng số lượng “chết oan” lại rất nhiều, đấy là cá Lành canh. Là một trong những loài sẵn ở vùng nước lợ, Lành canh thân hình mảnh dẻ, xương nhiều hơn thịt, nên khi trúng mìn chết bị sóng đánh dạt trắng bờ, một trong những niềm máu mê của trẻ trâu chúng tôi ngày trước là đi “mót” Lành canh sau mỗi quả mìn là vì thế. Tuy mỏng mình nhưng xương Lành canh rất mềm, nếu rán phải thật kỹ để ăn được tổng thể thịt xương, còn không chưng với cà chua hoặc nấu riêu mùng thì nước tuyệt ngọt.

Khi những đồng bãi nước lợ được tháo cạn để nông dân làm đất chuẩn bị cho mùa lúa, trong những vũng nước đọng lại có rất nhiều cá Mũn, một loài chỉ to bằng cuống chiếu. Nhìn bề ngoài rất nhiều người nhầm cá Mũn là Bống nhỏ, thực tế chúng là loài tách biệt như Tôm và Tép, cách nhận biết dễ nhất là hầu như Mũn mùa nào cũng đẻ nên dù “chíp hôi” vậy nhưng bụng đầy trứng. Mũn phổ biến là hai giống “giạ” và “mít”, tương ứng với hai màu trắng và đen. Khi nước lớn, Mũn “giạ” nhoi nhoi ăn ở các gốc rạ đã phân hủy nên dễ bị đánh bắt bằng giậm, Mũn “mít” lại tỉa tót các viên đất nhỏ sát gần bờ, nên cũng dễ hớt. Thường thì làm Mũn cứ để nguyên con, rửa sạch rồi chưng với cà chua, kho vùi cà gừng hoặc nấu riêu chua. Vì nhỏ nên bắt được một cân cá Mũn đã là niềm vui lớn, và khi nấu chỉ cần hai lạng đã đủ cho 5 người ăn. Được xếp vào các loại cá lành bổ nên Mũn khá đắt.

Với người Hải Phòng thì “ngần” không lạ, vì nó chính là tên của loài cá nước lợ có màu trong veo, thân nhỏ nhưng rất dài so với vòng “eo” chỉ to hơn cái tăm một chút. Ngần có đời sống khá dị, chúng di chuyển chậm với dáng vẻ ẻo lả, lửng lơ giữa hai tầm nước. Có lẽ vì yếu nên Ngần không sống ở các dòng chảy xiết, mà chọn những nơi ổn định thượng lưu nước lợ, gần với nguồn ngọt để cư ngụ. Bởi thế nên sông Đa Độ, vùng điều hòa giữa hai nguồn ngọt lợ rất thích hợp cho loại cá này, nên cá Ngần nấu dưa chua đã góp phần làm nên thương hiệu nổi tiếng cho một số nhà hàng ở thị trấn An Lão.

Nhìn chung, so với loài bạo ngư thì những loài cá ăn thứ phù du kể trên không nhiều về sản lượng nhưng giá trị kinh tế có phần nhỉnh hơn. Chỉ có điều giờ đây nguồn cá này lại càng thưa dần…

Nguồn: Lê Minh Thắng(http://haiphong.gov.vn/)