Tôi có anh bạn làm đầm khá thân tên là Đào Quang Bí ở Kiến Thụy, khi nói về cá, anh này triết lý: “Thiên nhiên tài thế, cái gì cũng có âm có dương, giống cá ăn phàm có loại nổi loại chìm, họ nhà phù du có giống ở hang hốc thì cũng có giống suốt ngày chỉ nhao trên mặt nước…”. Đấy là anh Bí đang muốn nói về những cư dân ẩn mình nơi mép sóng, ăn thức ăn phù du do các ngọn nước đổ dạt vào bờ mang lại.

cá bờn thơn

Vùng lầy nước lợ có một loài hình thù xấu xí, đầu nhô lên như chiếc bướu, đôi mắt lồi to lúc nào cũng liếc láo, dựa vào chi tiết ấy dân gian gọi là Lác. Cá Lác đào hang ngang dưới tầng phù sa khoảng 20cm, vì có chiếc đầu rắn nên chúng rúc bùn cực giỏi. Hang Lác nhiều cửa thông nhau nhưng chúng để lộ một nhược điểm là mỗi khi chui vào hang thì quẫy đầu để đánh nhão bùn lấp lại, nên tinh mắt cứ thấy cửa hang nào có lớp đất nhão ướt hơn lộ lên là y như rằng “chú Lác” nằm dưới đó.

Để bắt Lác, người ta chế những chiếc cạm bằng tre cắm chặn cửa hang, chúng vốn hiếu động và tò mò nên rất dễ mắc bẫy. Cũng có người rất thạo cách “xắn” đất dồn chúng vào đường cùng để bắt, nhưng đấy là khi nước cạn chứ nếu nước lên thì không thể dùng cách này. Ngày trước khi còn sống dựa vào “lộc đồng”, tôi tự sáng tạo cho mình kiểu đặt chiếc giậm trước cửa hang Lác đã đổ “mà”, dùng chân đạp mạnh để lực nước đọng trong hang đẩy Lác “phụt” vào trong giậm, ngoáy thật mạnh cho Lác mệt rồi túm mà tra vào giỏ. Hình thức xấu nhưng thịt Lác thơm ngon và cực lành đối với bà mẹ ở cữ, Lác bắt về đổ vào tro bếp tuốt sạch vẩy nhớt, khứa một đường ở bụng nặn hết ruột ra, kho nấu giống như với cá Bống.

Cũng sống trong hang nhưng ngập dưới đáy nước, đầu nhỏ hơn và có thân thuôn dài, đấy là cá Định. Bình thường cá Định nằm yên, chỉ khi thủy triều nhú chúng mới ngoi lên xúm xít thành đàn nhâu nhâu ăn bọt ở mép nước, cứ thấy động là đàn Định lại nhao ra phía ngoài rồi tụ lại phía trên theo chiều nước ngược khoảng bốn năm mét. Nắm được chu kỳ ấy, người bắt dùng giậm đuổi dồn theo đàn Định cách đoạn, chạy chục bước mới đánh một nhát giậm, trúng đàn nhấc lên có khi được cả chục con mỗi lần.

Cá Định thuộc họ Bống nên ăn đanh và thơm, dễ chế biến nhất là chiên giòn, xiên que nướng hoặc kho với củ riềng. Vì có hình dáng giống hệt cá Kèo, chỉ khác là trắng hơn nên gần đây khi Kèo thành đặc sản lan ra từ miền Nam, cá Định cũng lên giá và bán lẫn cho khách làng chơi cùng với cá Kèo. Ở Hải Phòng, theo những người có kinh nghiệm thì ngã ba Kênh Đồng – nơi dòng Lạch Tray tách khỏi sông Văn Úc, là vùng trú ngụ của cá Định mùa sinh sản.

 “Anh em ruột” với hai loài cá trên là Loi choi và Cau. Loi choi màu sắc và hình thức gần như Lác, nhưng khác là chọn lối độc thân một mình một tổ trên bờ ướt, đầu bướu to, cứng hơn và hơi vuông, đôi mắt cũng lồi hơn. Hang chúng dọc sâu chừng 30cm, thường là cải tạo từ lỗ cáy, mỗi hang chỉ có một cửa được đắp lũy viền quanh, có “nhà” nhưng Loi choi lúc nào cũng nằm ngúng nguẩy bên miệng hang y như cái tên người ta đặt cho. Thịt Loi choi ngon nhưng phần xương đầu chiếm quá nhiều nên ít người bắt, hầu như chúng chỉ được băm làm mồi giấm Rạm hoặc câu Cà ra. Cá Cau thì sống tận dưới hang xuyên qua mọi tầng đất ở đáy sông, thân dài ngoẳng và có màu đỏ tựa như rễ cau, chưa rõ chúng ăn thức gì nhưng Cau có hàm răng sắc nhọn nhìn rất ghê. Thịt Cau nhạt và nghe nói hơi độc nên không mấy ai ăn, trước kia Cau cũng chỉ được dùng băm làm mồi giấm Rạm, nhưng nay được người ta nghiền giả làm chả cá Mối nên cũng được đánh bắt khá nhiều.

Kể về các loài cá ở hang ngầm, không thể không nhắc đến giống cá Nhệch. Có thể hình dung đây là loài Lươn của nước lợ, lưng xanh và bụng hơi trắng, mắt ti hí gian giảo. Nhệch ở rất sâu, khi phát triển lớn hơn Lươn rất nhiều, có con dài tới hàng mét. Nhệch đào hang bằng đuôi nên bộ phận này của chúng cứng vô địch, người đi úp “nơm” ngộ nhỡ úp phải chúng mà thò tay vào, chúng ngoáy đuôi lên có khi bục nách. Một anh bạn đầm của tôi còn kể, ngày trước có bà mặc quần ống sớ đi mò, gặp phải con Nhệch to loạn nước, nó ngoáy đuôi vào “vùng cấm” khiến bà này phải đi cấp cứu? Chuyện có thể chỉ là bịa, nhưng nó mô tả đúng “tính cách” của con Nhệch là thế. Thịt Nhệch được xếp vào hạng đặc sản, con to có giá đắt ngang cá Chình, cũng được chế biến thành nhiều món như làm chả, làm gỏi, chiên giòn, nấu lẩu, lọc mật uống rượu như thịt rắn. Ở Hải Phòng có quán Sông He trên đường Phạm Văn Đồng (quận Dương Kinh) khá nổi tiếng với những món này.

Bãi lầy còn một loài cá không kinh tế nhưng khá nổi tiếng, ấy là Thờn bơn. Đây là loài cá nhỏ, thân mỏng và mềm lớt, nhiều người đã từng ăn đều nói không ngon. Thờn bơn lúc nào cũng sống có đôi, đắm chìm dưới lớp phù sa gần mép nước, chỉ khi mưa lớn, lớp phù sa phía trên bị rã ra, Thờn bơn mới lộ thân. Khi còn nhỏ tôi nghe kể rằng: “Ngày xưa có hai vợ chồng nghèo lại mắc bệnh hủi nên bị làng đuổi đi. Họ dẫn nhau ra ngoài bờ sông dựng tạm túp lều để ở, dần dà hủi ăn cụt cả tay chân nên chẳng làm được gì, họ nằm đó, đói và khát nhưng luôn quay mình hướng về nhau cho đến khi không còn hơi thở. Chuyện thấu đến thiên đình, ông trời khóc thương, nước mắt đổ xuống thành một trận mưa, biến hai vợ chồng nọ thành một loài cá có tên là Thờn bơn. Vì đói nên bụng Thờn bơn lúc nào cũng lép kẹp, nhưng có cặp mắt đặc biệt cùng nằm một phía, ngụ rằng để lúc nào hai vợ chồng luôn được nhìn thấy nhau… Từ đấy dân gian có câu: “Đôi ta như cá Thờn bơn, nằm trên bãi cát đợi cơn mưa rào…”.

Có lẽ vì sống thủy chung như thế nên Thờn bơn sinh sản cũng “kế hoạch” do vậy hơi hiếm, có điều với hình dáng và đời sống lạ nên nhiều người Hải Phòng dù chưa một lần bắt gặp, nhưng cái tên Thờn bơn dường như ai cũng biết.

Nguồn: Lê Minh Thắng(http://haiphong.gov.vn/)